


Và mặc dù đắt hơn 1.000 bảng Anh, nhưng phiên bản hiệu năng như CB1000 Hornet SP vừa ra mắt có thể là một lựa chọn tốt hơn khi được trang bị giảm xóc sau Ohlins, phanh Brembo Stylema, công suất tăng thêm 5 mã lực và hệ thống sang số nhanh tiêu chuẩn.

Cả hai mẫu xe đều sẽ có mặt tại các đại lý vào tháng 1 năm sau, trong đó mẫu CB1000 Hornet tiêu chuẩn có ba màu để lựa chọn là đỏ, xám hoặc trắng, trong khi mẫu CB1000 Hornet SP chỉ có màu đen mờ với vành xe và phuộc xe màu vàng.

Động cơ trong CB1000 Hornet chắc không cần giới thiệu nhiều. Nó bắt nguồn từ động cơ bốn xy-lanh vốn được trang bị cho CBR1000RR Fireblade 2017 trở đi. Như thường lệ, có một sự điều chỉnh lớn liên quan, một phần để phù hợp với đặc tính dạng nakedbike của Hornet nhưng cũng để đáp ứng các yêu cầu ngày càng khắt khe của các quy định về khí thải, nhưng vì Fireblade 2017 có công suất gần 190 mã lực, nên việc giảm đi một chút công suất cũng không khiến CB1000 Hornet trở nên quá yếu ớt.

Phiên bản động cơ trên CB1000 Hornet vẫn giữ nguyên đường kính xy-lanh 76mm và hành trình piston 55,1mm như Fireblade 2017, nhưng tỷ số nén giảm từ 13:1 xuống mức 11,7:1 và hiệu suất khả dụng được giảm xuống dải vòng tua để dễ đạt được hơn nhờ trục cam mới và thời điểm đóng mở van khác nhau.

Kết quả là công suất 150 mã lực tại 11.000 vòng/phút và mô-men xoắn 103 Nm tại 9.000 vòng/phút, trong khi phiên bản Fireblade 2017 cũ tạo ra công suất 190 mã lực tại 13.000 vòng/phút và mô-men xoắn 116 Nm tại 11.000 vòng/phút. Trong khi phiên bản CB1000 Hornet SP với công suất cực đại tăng lên 155 mã lực tại 11.000 vòng/phút và mô-men xoắn 106 Nm tại 9.000 vòng/phút nhờ ống xả khác bao gồm van điều khiển servo trong bộ giảm thanh mở ở tốc độ 5.700 vòng/phút để giải phóng luồng khí. Điều này dẫn đến mức độ tiếng ồn cao hơn một chút đối với phiên bản SP, nhưng không thay đổi về khả năng tiết kiệm nhiên liệu.

Hộp số sáu cấp một lần nữa được mượn từ Fireblade thế hệ trước, nhưng với tỷ số truyền động dành riêng cho mẫu Hornet mới. Nó được truyền động thông qua bộ ly hợp hỗ trợ/trượt tiêu chuẩn trên SP nhưng là dạng tùy chọn trên mẫu cơ sở, và còn có một bộ chuyển số nhanh với ba mức điều chỉnh.
Cả hai mẫu xe Hornet mới đều có ba mức công suất động cơ và phanh động cơ, cộng với bốn mức kiểm soát lực kéo, chia thành năm chế độ lái – Rain, Standard, Sport và hai chế độ cài đặt trước do người dùng thiết lập. Ngoài ra còn có chế độ kiểm soát bốc đầu tiêu chuẩn.

Khung xe chính của CB1000 Hornet là khung thép đôi, và mặc dù có vẻ không lạ mắt bằng thiết kế nhôm trên một số đối thủ, nhưng Honda cho biết khung xe này có độ cứng xoắn cao hơn 70% so với mẫu xe naked bike trước đó là CB1000R.

Chiều dài cơ sở 1.455mm giống hệt với thế hệ cũ CB1000R, cũng như góc nghiêng 25 độ, và Honda cho biết trọng lượng đã được chuyển về phía trước, bằng cách dịch chuyển động cơ về phía trước cùng với các thành phần như giảm xóc sau và ắc quy. Hộp gió được đặt phía trên đầu xy-lanh của động cơ thay vì phía sau để hỗ trợ.

Cả hai phiên bản xe đều có chung phuộc trước, đó là phuộc hành trình ngược Showa SFF-BP 41mm với khả năng nén, phục hồi và tải trước có thể điều chỉnh, nhưng chúng khác nhau ở phía sau. Cụ thể CB1000 Hornet tiêu chuẩn có giảm xóc đơn Showa, vận hành thông qua hệ thống Pro-Link và cung cấp khả năng điều chỉnh tải trước và phục hồi, trong khi phiên bản SP có giảm xóc Ohlins TTX36 có thể điều chỉnh hoàn toàn tải trước, phục hồi và nén. Cả hai chế độ đều sử dụng cùng một gắp nhôm với thiết kế dạng đôi thay vì dạng đơn vốn là đặc điểm của CB1000R cũ.

Trong khi cả hai phiên bản CB1000 Hornet đều sử dụng kẹp phanh trước bốn piston gắn hướng tâm với đĩa kép 310 mm, đối với phiên bản Hornet tiêu chuẩn là từ Nissin còn phiên bản SP sử dụng loại Brembo Stylema. Kẹp phanh 1 piston Nissin phía sau và đĩa 240 mm được chia sẻ cho cả hai phiên bản, và mặc dù có ABS 2 kênh nhưng đây không phải là loại nhạy cảm với độ nghiêng đang ngày càng trở nên phổ biến.
Honda còn dành cho những khách hàng muốn thêm một chút thoải mái và tiện dụng hơn sẽ có thể lựa chọn 'Comfort Pack' bao gồm tay cầm có sưởi, và có một bộ yên sử dụng Alcantara tùy chọn như một phần của 'Style Pack'. Khách hàng cũng có thể thêm một chắn gió nhỏ, cũng như một tấm chắn bụng và ốp yên xe, với tùy chọn của gói 'Sport Pack'.
CB1000 Hornet được Honda trang bị màn hình TFT màu 5 inch có khả năng kết nối điện thoại. Đây là thiết lập được chia sẻ với các mẫu xe Honda khác, và đi kèm với ứng dụng RoadSync của Honda, bao gồm cả chức năng dẫn đường từng chặng trên màn hình cực kỳ quan trọng. Một công tắc bật tắt bốn chiều gắn trên tay lái có đèn nền, điều khiển màn hình và khi được ghép nối với tai nghe Bluetooth, chủ xe cũng có thể điều khiển cuộc gọi và nhạc.
Các thông số kỹ thuật khác bao gồm hệ thống đèn LED toàn phần với đèn pha kép kiểu máy chiếu và chức năng Đèn báo dừng khẩn cấp (ESS) tự động nháy đèn cảnh báo nguy hiểm khi phanh gấp.
Nhìn chung, CB1000 Hornet có giá rẻ hơn nhiều so với hầu hết các đối thủ cạnh tranh. Giá ở châu Âu đã được mở bán ở mức 8.999 bảng Anh (293 triệu đồng), trong khi mẫu SP có giá cao hơn là 10.000 bảng Anh (326 triệu đồng).